NHỮNG NHÀ PHÚ HỘ VÀ NGƯỜI LỪNG DANH Ở
NAM Kỳ
Hứa Hoành
Phần 4 - Nhà giàu kỹ nghệ gia
Trương Văn Bền: nhà kỹ nghệ
không bằng cấp kỹ sư
Hồi trước,
không người nào ở Việt nam mà không nghe nhắc
tới Trương Văn Bền. Tên tuổi ông gắn
liền với cục xà bông thơm: “Xà bông cô Ba”, hay
cục xà bông đá: xà bông Việt nam để giặt
đồ, phổ thông khắp cả 3 miền đất
nước, lên tận Miên, Lào. Xà bông thơm “Cô Ba” nổi
danh trong mấy thập niên liền, đủ sức
đánh bạt xà bông ngoại hoá, nhập cảng từ
Pháp. Người miền Nam đă từng thán phục ông
Trương Văn Bền, cũng như người
ở miền Bắc khâm phục ông Bạch Thái
Bưởi. Cả hai ông đều thành công trên
thương trường mà không qua một trường
dạy nghề nào, không cần một bằng cấp
kỹ sư nào. Điều đó chứng tỏ “kinh
tế nhân” một con người có đầu óc kinh doanh,
tháo vát, nhiều sáng kiến c̣n hơn là người
học hành tới nơi tới chốn, bằng cấp
bề bề, nhưng không đóng góp những sự
hiểu biết, kiến thức của ḿnh vào công việc
kiến thiết, góp phần vào công cuộc phát triển
kinh tế nước nhà.
Trước khi làm một nhà doanh thương, kỹ
nghệ, ông Bền c̣n là một ông Hội đồng
quản hạt Nam Kỳ. Gia sản đồ sộ
của ông Trương Văn Bền là do công sức sáng
tạo của ông làm ra. Gia sản kếch xù đó không
phải thừa hưởng của phụ ấm. Cũng
không phải ông Bền làm giàu bằng cách nhờ ruộng
đất. Ông có một lối đi riêng làm gương
cho những người đi sau như Trần Thành, vua lúa
gạo Chợ Lớn, ông Trương Văn Khôi, vua
bột giặt Viso, ông Nguyễn Tấn Đ̣i, vua ngân
hàng...
Nếu sắp hạng sự giàu có của ông
Trương Văn Bền với những người
đồng thời, th́ gia sản của ông tương
đương với ông Phủ Kiểng ở Bến Tre,
ông Kho Gressier Remy ở Sóc Trăng, hay gia đ́nh Lâm Quang
ở Trà Vinh. Người giàu nhứt Lục danh thời
ấy là Hội đồng Trần
Trinh Trạch, tục danh Hội đồng Tó (giàu
gấp 4 lần ông Bền và ông Kiểng).
Là người Việt gốc Hoa, sinh năm 1883 tại
Chợ Lớn, ông Trương Văn Bền thuộc
một gia đ́nh khá giả. Ông có đi Pháp nhiều
lần, nhưng chưa học qua một trương chuyên
nghiệp nào. Theo bảng lượng giá để đánh
thuế của Phủ toàn quyền Đông Dương
ở Hà Nội, th́ năm 1941, ông Trương Văn
Bền phải đóng cho chính phủ một số
tiền lên tới 107.000 đồng (trong khi đó, giá vàng
khoảng 60 đồng/lượng).
Là người nhạy cảm trong việc thương
mại, nh́n xa thấy rộng, ông Bền biết rơ
tiềm năng kinh tế Việt nam c̣n bị lăng quên: cây
dừa. Từ năm 1918, ông Bền đă lập
xưởng ép dầu dừa (dùng trong kỹ nghệ xà
bông, mỹ phẩm) mỗi tháng sản xuất 1500 tấn
Cùng lúc đó, tại cù lao An Hoá, quận B́nh Đại
cũng mọc lên xưởng ép dầu dừa của ông
Nguyễn Thành Liêm. Ông Liêm là thân phụ ông Nguyễn Thành
Lập, thành viên góp vốn cho ngân hàng Việt nam, và từng
làm Bộ trưởng Tài Chánh nhiều chính phủ. “Xà bông
VN 72% dầu” nổi tiếng, phổ thông khắp mỗi
làng mạc, thôn xóm.
Năm 1932, hăng xà bông Trương Văn Bền
được thành lập tại địa chỉ “Quai
de Cambodge” (trước chợ Kim Biên bây giờ), ban
đầu sản xuất 600 tấn xà bông giặt mỗi
tháng. Từ khi “Xà bông cô Ba” tức xà bông thơm đầu
tiên của Việt nam, để tắm gội ra
đời, có sức đánh bạt xà bông thơm của
Pháp, nhập cảng từ Marseille nhờ phẩm chất
tốt, giá thành thấp. Trong thương trường, ông
Bền có chủ trương riêng để tạo uy tín là
phải giữ phẩm chất tốt, bền bỉ. Ông
nh́n xa thấy rộng, không theo lối chụp giựt,
ăn xổi ở th́ như kiểu Việt cộng ngày
nay. Mặc đầu có địa vị cao trong xă
hội, nhưng ông Bền không tự măn. Ông luôn luôn t́m ṭi,
học hỏi kinh nghiệm mỗi lần có dịp qua
Pháp. Khi máy giặt được phát minh và nhập
cảng vào Việt nam, ông Bền cũng liền sản
xuất loại bột giặt để thích ứng ngay.
Loại bột giặt Viso của ông Trương Văn
Khôi, và bột giặt “Việt nam “ của hăng xà bông
Trương Văn Bền (lúc đó đổi thành hăng xà
bông Việt nam), có đủ sức cạnh tranh với
bột giặt của Mỹ nhập cảng. Ông
Trương Văn Bền chưa bao giờ là một quan
lại đúng nghĩa, mặc dầu ông thường giao
du với giai cấp thượng lưu xă hội. Chức
vụ Hội đồng quản hạt từ năm
1918-1943 chỉ tượng trưng mà thôi.
Những người lớn tuổi, không ai không
biết đến xà bông “Cô Ba”, có in h́nh nổi trên cục
xà bông thơm, trong một h́nh oval. Ngoài hộp xà bông
bằng giấy carton cũng có in h́nh người đàn bà
đẹp đó. Nhiều giai thoại kể lại
rằng người đàn bà in h́nh trong cục xà bông
thơm và nhăn hiệu đó chính là người vợ
thứ của ông Bền. Một nguồn tin đồn
khác kể lại “Cô Ba “ chính là con gái Thầy Thông Chánh
ở Trà Vinh, người đàn bà đẹp nhứt Nam
Kỳ hồi đầu thế kỷ này. Dầu sao đó
cũng là giai thoại và tin đồn không được
kiểm chứng. Cái hay của ông Trương Văn
Bền là biết áp dụng tâm lư, đưa h́nh ảnh “Cô
Ba”, người đẹp huyền thoại trong dân gian làm
nhăn hiệu cho sản phẩm hàng hoá của ḿnh bán
chạy. Với sự ra đời của hăng xà bông
Trương Văn Bền ở Nam Kỳ năm 1932,
Việt nam hănh diện được một xưởng
công nghệ quy mô, góp phần vào công cuộc phát triển
kinh tế trong thời kỳ phôi thai. Các xưởng ép
dầu, xưởng làm xà bông, thâu nhận và tạo công
ăn việc làm cho trên 200 công nhân. Khi công việc làm ăn
phát đạt thêm, ông Bền c̣n xuất tiền cất
một dăy phố 50 căn, gần Ngă Sáu Chợ Lớn,
nằm góc đường Armans Rousseau và Général Lizé
(trước năm 1975 đổi thành Minh Mạng-Hùng
Vương).
Ngoài việc sản xuất xà bông, ông Bền c̣n lập
nhà máy sản xuất một thứ phó sản, một
thứ chất nhờn gọi là glycérine, công xuất
mỗi tháng 10 tấn. Ngoài công việc kỹ nghệ, ông
Bền c̣n chứng tỏ khả năng trong lâm nghiệp
và canh nông. Ông hợp tác với Viện nghiên cứu Nông
Nghiệp Đông Dương, để ươm cây con gây
rừng thông, hàng tháng tới 30 tấn, tại Đồng
Nai Thượng, tức tỉnh Lâm Đồng ngày nay.
Trong lănh vực nông nghiệp, Trương Văn
Bền c̣n làm chủ tịch Tổng giám đốc Công ty
Canh nông Tháp Mười, có một đồn điền
rộng 10.000 mẫu, để khai thác từ năm 1925
tới 1932. Ngoài các công việc chuyên môn như đă kể
ở trên, Trương Văn Bền c̣n là:
- Phó chủ tịch Pḥng thương mại Nam Kỳ
1932-41.
- Hội viên Hội
đồng Canh nông từ 1922.
- Hội viên Hội
đồng Kinh tế lư tài Đông Dương từ 1929.
- Hội viên Hội
đồng Quản trị Thương cảng Sài g̣n
từ 1924.
- Hội viên Hội
đồng Quản trị lúa gạo Đông Dương.
- Chủ tịch kiêm thủ
quỹ nghiệp đoàn Canh nông Chợ Lớn từ 1932
- Hội viên Hội
đồng sản xuất kỹ nghệ từ năm
1941.
Hồi đó, tạị Nam Kỳ có 3 cơ quan tư
vấn tối cao, phụ tá cho Thống đốc là:
Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, Hội
đồng Canh nông, và Pḥng thương mại, th́ ông
Bền đều là hội viên của cả ba. Ông Bền
có nhiều con trai lẫn gái. Một người con, chúng
tôi được nghe nhắc tới là ông Trương
Khắc Trí, từng là chủ tịch ban quản trị
Việt nam Công Thương Ngân Hàng (lập năm 1953)
tại Sài g̣n. Người con trai út, ông Trương
Khắc Cần, thay cha quản lư “Hăng xà bông Việt nam” cho
tới khi Việt cộng chiếm trọn miền Nam.
Liền sau công cuộc “giải phóng dân tộc”, một
chiến dịch hết trọn tài sản, nhà đất,
công ty, xí nghiệp của những nhà tư sản và xua
đuổi họ ra nước ngoài, ông Trương
Khắc Cần “được nhà nước ưu ái” cho
phép hiến tặng tất cả tài sản mà gia đ́nh
thân phụ ông tạo lập từ hơn nửa thế
kỷ nay, để được... sang Pháp. Trong kư
sự “Một tháng ở Nam Kỳ”, nhà văn Phạm
Quỳnh có nhắc đến ông Trương Văn
Bền:
Ông Trương Văn Bền là một nhà công nghiệp
to ở Chợ Lớn, năm trước cũng có ra xem
hội chợ ở Hà Nội, đem xe hơi ra đón các
phái viên Bắc Kỳ về xem nhà máy dầu và nhà máy
gạo của ông Chợ Lớn. Xem qua cái công cuộc ông
gây dựng lên, đă to tát như thế mà chúng tôi thấy
hứng khởi trong ḷng, mong mỏi cho đồng bào ta
ngày một nhiều người như ông, ngơ hầu
chiếm được phần to trong trường kinh tế
nước nhà và thoát ly được cái ách người
Tàu về đường công nghệ thương
nghiệp. (lúc đó khoảng năm 1918, ông Bền chưa
lập hăng xà bông)
La Thành Nghệ
La Thành Nghệ làm
giàu nhờ thuốc đỏ:
Trong những nhà giàu bằng nghề y dược ở
miền Nam trước đây La Thành Nghệ là một khuôn
mặt nổi bật, được nhiều
người biết tiếng. Vốn người Triều
Châu, sinh trong gia đ́nh giàu có, La Thành Nghệ
được du học bên Pháp và đậu bằng
Dược sĩ. Nếu sắp hạng những nhân
vật giàu có, tiếng lăm thuộc ngành y dược
thời trước tại miền Nam, th́ La Thành Nghệ
thuộc lớp sau Trần Kim Quan, nhưng đồng
thời với các dược sĩ Trần Văn Lắm,
Nguyễn Cao Thăng, Nguyễn Thị Hai...
La Thành Nghệ được dân chúng gọi “vua
thuốc đỏ”, một sản phẩm rất tầm
thường, giá trị kinh tế thấp, nhưng
được mọi giới ưa chuộng và rất
phổ thông từ thành thị tới thôn quê. Khi chiến
tranh càng ngày càng leo thang, nhu cầu sử dụng thuốc đỏ
càng nhiều th́ La Thành Nghệ đă được phép làm
đại lư độc quyền phân phối thuốc
đỏ, đem lại cho ông một nguồn lợi
rất lớn. Ngoài ra, La Thành Nghệ c̣n nhập cảng
thuộc trụ sinh, một thứ thần dược
trị các vết thương. Trong các ngành công kỹ
nghệ của Việt nam Cộng hoà (1954-75), nhiều
người cũng biết làm giàu bằng công thức trên:
chuyên môn buôn bán một món hàng thông dụng, rẻ tiền
nhưng có lợi tức lớn lao ít ai ngờ. Thời
thế đă giúp họ làm giàu nhanh chóng. Trong giới b́nh
dân, họ được mệnh danh là những “Ông vua”
như:
- Vua vương quốc Chợ Lớn: Bang
trưởng Triều Châu Trần Thành.
- Vua sắt thép, dệt: Lư Long
Thân.
- Vua lúa gạo: Mă Hỉ,
Lại Kim Dung (bà này c̣n được gọi “nữ hoàng
gạo”).
- Vua nông cụ: Lưu
kiệt, Lưu Trung (đại lư nhập cảng
độc quyền và phân phối nông cơ.
- Vua ngân hàng: Nguyễn Tấn
Đời...
Khi chiến tranh leo thang, tiền viện trợ
đổ vào ồ ạt, tạo ra hiện tượng
toàn dụng nhân công, nền kinh tế Việt nam phái
triển mọi lănh vực... các nhu cầu xă hội gia
tăng, khiến cho công cuộc làm ăn của các ông vua
ấy phất lên như diều gặp gió.
Trước khi miền Nam thất thủ vào tay
cộng sản, những ai có dịp đi qua
đường Tự Do, sau này Việt cộng đổi
lại “Đồng Khởi” chắc đă thấy
Laboratoire La Thành, nằm giữa hai nhà hàng La Pagode và rạp
Eden.
Ít có ai nghĩ rằng với một thứ sản
phẩm tầm thường, rẻ tiền như
thuốc đỏ mà làm nên sự nghiệp kếch xù
của La Thành Nghệ. Thuốc đỏ, tiếng Pháp
gọi là Mercure crome, một thứ dung dịch màu
đỏ, dùng bôi lên các vết thương nhẹ
để sát trùng. Sau khi Tổng thống Ngô Đ́nh
Diệm bị lật đổ, t́nh h́nh an ninh mỗi ngày
một xấu thêm. Cộng sản gia tăng phá hoại.
Họ mở nhiều đợt tấn công lớn. Họ
pháo kích bừa băi vào các khu đông dân, hoặc đặt
ḿn trên các trục lộ, làm tử thương và bị
thương rất nhiều thường dân mỗi ngày.
Trước t́nh h́nh chiến sự leo thang, nhu cầu
sử dụng thuốc đỏ và trụ sinh lên cao.
Thời đó, thuốc đỏ do dược pḥng
Laboratoire La Thành sản xuất, được sử
dụng trong các bịnh viện, các quân y viện, các
bịnh viện dă chiến, các trung tâm y tế, các
đơn vị quân y... và rất được dân chúng
từ thành thị tới thôn quê ưa chuộng v́ nó rẻ
và hiệu nghiệm.
Một nhân vật tiếng tăm khác của Sài g̣n
hồi nửa thế kỷ trước, mà các vị cao
niên thường nhắc lại, đó là ông Huyện hàm
Nguyễn Văn Của, thân phụ của Trung
tướng Nguyễn Văn Xuân. Ông Nguyễn Văn
Của xuất thân từ cảnh hàn vi. Theo cụ
Vương Hồng Sển th́ “thuở nhỏ tân cần
khổ sở”, tôi được nghe nhiều người
kể lại rằng: “Lúc ấu thơ, cậu bé
Nguyễn Văn Của phải xách đến ông theo
chị đi bán rong đêm khuya mới đủ sống,
cơ cực vô ngần”. Thế mà mấy chục năm sau,
ai ai cũng biết danh ông. Một điểm đặc
sắc là cho đến ngày tỵ trần, ông chỉ làm
“Ông huyện Của” (tước hàm) và đào tạo
rất nhiều Phủ và Đốc phủ danh dự”. Ông
Huyện Của cũng là người biết kinh doanh, và
về sau trở thành một trong những người giàu
có ở đất Sài g̣n. Ông Huyện Của từng hùn
vốn với nhà quư tộc Lê Phát An lập nhà in. Ông Lê Phát
An được Bảo Đại phong tước An
Định Vương, là tước hiệu cao quư
nhứt đă phong cho một người Nam Kỳ. (Theo ông
Nguyễn Văn Vực) Cuộc đời ông An
Định Vương Lê Phát An, chúng tôi có viết lại
trong các sách Nam Kỳ Lục Tinh, sách “Các Nhà Giàu Xưa ở
Nam Kỳ”. Ông Huyện Của cũng từng làm báo và có uy
tín trong báo giới. Lănh vực nào ông Huyện Của
cũng thành công. Cuộc đời ông là lấm
gương kiên nhẫn, hiếu học.
Một người bạn văn, cựu giáo sư Lâm
Vĩnh Thế, hiện định cư tại Canada, có
kể lại mối liên hệ giữa ông La Thành Nghệ
và ông Huyện Của với người viết như
sau:
“Ông Nguyễn Văn Của chính là ông dượng
của tôi. Bà vợ thứ nhứt là thân mẫu của
Thủ tướng Nguyễn Văn Xuân (Trung tướng)
mất sớm. Bà vợ thứ hai của ông Huyện
Của chính là chị lớn của bà nội tôi. Bà này không
có con cái ǵ với ông Của, và sau đó cũng lại
mất sớm. Ông Huyện Của tái giá một lần
nữa, và lần này bà vợ thứ ba sanh nhiều con.
Người con gái út là cô Mười Marcelle, chính là vợ
của dược sĩ La Thành Nghệ, chủ công ty
“Dược pḥng La Thành”, như vậy ba tôi là em vợ
của ông Huyện Của. Nhắc tới ông La Thành
Nghệ, không một người dân nào ở Sài g̣n mà không
nghe nhắc tới. Ông dược sĩ này c̣n mệnh danh
là “Ông vua thuốc đỏ và trụ sinh”.
Ngoài hai loại thuốc đỏ và trụ sinh,
viện bào chế “La Thành” (Laboratoire La Thành) c̣n sáng chế
một thứ pommade để thoa trị bịnh phong t́nh.
Bịnh này thường có mụt mụn đỏ chung
quanh háng và bộ sinh dục. Muốn điều trị
chỉ cần xức pommade vào chỗ đó sau khi rửa
vết thương cho sạch bằng thuốc đỏ
Chỉ vài ba lần xức pommade, người bịnh
cảm thấy dễ chịu, không ngứa rát và b́nh
phục dân dân. Thuốc này không gây đau đớn và
biến chứng. Các thanh niên bị bịnh phong t́nh thường
có mặc cảm không muốn đến bịnh viện
hay đi bác sĩ tư để chữa trị.
Họ mua thuốc pommade của dược sĩ La
Thành Nghệ tự chữa lấy. Nhờ biết
được yếu tố tâm lư ấy và sự công
hiệu của thuốc, La Thành Nghệ bán sản phẩm
này chạy như tôm tươi. Khi trở nên giàu có, La Thành
sống thầm lặng, ít khoe khoang hay ăn chơi trác
táng như một số nhà giàu khác. Mấy thập niên trước,
dân ăn chơi Sài Thành, không ai mà không nghe tiếng hoặc
biết công tử Hoàng Kim Lân, con của vua dây kẽm gai
Hoàng Kim Quy. Tôi được nghe một người quen kể
lại rằng có một lần, gặp lúc cao hứng
tại vũ trường Maxim, ông Hoàng Kim Lân đứng
lên giữa sân khấu tuyên bố: “Hôm nay là ngày sinh nhựt
của tôi. Tôi xin đăi tất cả quư vị có mặt
hôm nay. Quư vị tha hồ ăn uống bất cứ món ǵ
mà không phải trả tiền”. Tiếp theo sau đó,
rượu sâm banh chảy ra như suối và khách ăn
chơi vỗ tay như sấm!
Năm 1996, khi hay tin bịp của nhà nước
cộng sản sẽ trả lại tài sản cho những
khổ chủ đă bị tịch thu hồi mới
“giải phóng”, th́ ông Hoàng Kim Lân về Việt nam để
xin lại.
Sau nhiều lân chỉ dẫn, ông đến Hà Nội,
thuê khách sạn để nằm chờ. Cán bộ chỉ
hứa hẹn dây dưa. Sau đó, người ta nghe tin ông
ông Hoàng Kim Lân bị bịnh, đột ngột từ
trần, sau khi được nhà nước “ưu ái”
đưa vào bịnh viện. Thi hài ông được
họ chôn cất tử tế. Sau đó nghe đồn
rằng gia đ́nh ông ở hải ngoại, nhận
được giấy đ̣i tiền sở phí về cái
đám ma ấy lên tới mấy chục ngàn đô la?
Trở lại ông La Thành Nghệ, là người chỉ
giao thiệp với hạng nhà giàu và thượng lưu
trí thức ở Sài g̣n. Tuy sống trên đống vàng,
nhưng ông không phung phí tiền bạc để mang tai
tiếng như nhiều người khác. Năm 1967, La Thành
Nghệ ra ứng cử Nghị sĩ Quốc Hội, chung
liên danh “Bạch Tượng” của Dược sĩ
Trần Văn Lắm và đắc cử. Ông Trần
Văn Lắm có lúc làm Phó chủ tịch Thượng
Viện và Tổng trưởng Ngoại Giao dưới
thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
Tuy nhiên, danh nghĩa Nghị sĩ Quốc Hội
chỉ để trang trí cho La Thành Nghệ hơn là
nghề hái ra liền như viện bào chế La Thành
của ông. Do đó, trong thời gian tham chính, dư luận
hay báo chí không nghe ông tuyên bố hay có hành động chính
trị nào tỏ ra tham quyền cố vị... Ông cũng
tránh xa các áp-phe làm ăn của các ông tai to mặt bự
khác.
Ông bà ta thường nói: “Nhứt nghệ tinh nhứt
thân vinh”. Trong giới b́nh dân, người trong gia đ́nh
cũng hay dặn cho cháu: “Sành một nghề sung
sướng một đời”. Cả hai câu đều
ngụ ư khuyên con người ở đời chớ khinh
hay trọng một nghề nào hơn nghề nào. Nghề
nào cũng cao quư. Nếu giỏi một nghề chắc
chắn được ấm no, sung sướng.
Những vị lương y, các dược sĩ
Đông Tây y chỉ nhỏ sáng chế được
một vài thứ thuốc gia truyền công hiệu, trở
nên giàu có, được dân chúng miền Nam nhắc nhở
tên buổi.
Kể về các lương y, dược sĩ sáng
chế các loại thuốc thông dụng, rẻ tiền
nhưng hiệu nghiệm, được quần chúng
miền Nam ủng hộ hơn nửa thế kỷ
trước, chúng tôi được biết:
- Vơ Văn Vân nổi tiếng với
thuốc “Tam tinh hải cẩu bổ thận hoàn”.
- Bác sĩ Bùi Kiến Tín
với “Dầu gió khuynh diệp”.
- Dược sĩ Nguyễn
Chí Nhiều
với “Nguyễn Chí Dược Cuộc”.
Dưới thời Đệ nhứt Cộng hoà
(1954-1963) Thủ tướng (sau đó làm Tổng thống)
Ngô Đ́nh Diệm vừa mới thu hồi độc
lập, mở chiến dịch khuyến khích dân chúng dùng
hàng nội hoá, để thay thế hàng hoá Pháp. Nhiều món
hàng hoá, thuốc men mới sáng chế trong dịp này
trở nên thông dụng và làm tăng uy tín của hàng nội
hoá. Các Đông y sĩ, dược sĩ Tây y, bác sĩ...
thời đó thành công nhờ hoàn cảnh một phần.
Phần lớn họ nhờ sản phẩm có uy tín,
được người tiêu dùng tín nhiệm.
Ông Vơ Văn Vân là người sáng lập nhà
thuốc Vơ Văn Vân lại Thủ Dầu Một, tức
tỉnh B́nh Dương hồi trước năm 1975. Sau
khi cộng sản chiếm miền Nam, họ đổi
lại thành tỉnh Sông Bé. Hai sản phẩm nổi
tiếng của dược pḥng Vơ Văn Vân là:
- “Bá đả quân sơn tán” trị bịnh đau
lưng, nhức mỏi rất công hiệu. Hồi đó
các xe đi bán quảng cáo thuốc của nhà thuốc Vơ
Văn Vân c̣n khoe rằng “Bá đả quân sơn lán” là
thuốc trị bịnh đánh bị té, các vơ sĩ, các
người lao động chân tay như làm ruộng, làm
công (vác lúa, chèo ghe, móc mương, bồi vườn...)
đều phải uống thuốc này, v́ nó “hiệu
nghiệm như thuốc tiên!”- “Tam tinh hải cẩu
bổ thận hoàn” trị bịnh yếu sinh lư, tráng
dương, bổ thận, dùng cho
đàn ông để tăng cường sinh lực.
Các năm 1955-57, các nhà thuốc thường tổ
chức những xe thuốc đi bán dạo các miền quê.
Mỗi xe có người làm tṛ vui như xiếc, ảo
thuật, kịch ngắn để thu hút khán giả. Xen
kẽ vào những tṛ vui ấy là màn bán thuốc.
Người nhà quê lúc ấy gọi các xe bán thuốc
dạo đó là “Sơn Đông Măi Vơ”. Tuy là Đông y sĩ,
nhưng ông Vơ Văn Vân lại cho các con qua Pháp du học các
ngành y, dược. Trong số các con của Vơ Văn Vân, có
ông Vơ Văn ứng, từng nổi tiếng là Mạnh
Thường Quân của các bộ môn thể thao ở Sài
g̣n. Ông Vơ Văn ứng c̣n làm Tổng giám đốc Nam
Đô Ngân hàng, khách sạn Nam Đô. Một nhà thuốc
Đông y khác, cũng nổi tiếng đồng thời là
nhà thuốc Vơ Đ́nh Dần ở Chợ Lớn. Thuốc
ích khí bổ thận “Cửu Long Hoàn”, chuyên trị mệt
mỏi, lao tâm lao lực, được quảng cáo sâu
rộng, nên bán rất chạy. Thời đó, hầu
như ai cũng thuộc ḷng câu: “Một viên Cửu Long hoàn
bằng 10 thang thuốc bổ “ của nhà thuốc Vơ
Đ́nh Dần. Nhà thuốc này cũng có một đội
ngũ chuyên môn đi bán dạo khắp thôn quê, gồm 5 xe
cam nhông, gọi là “Sơn Đông Măi Vơ”. Theo nhà văn Hồ
Trường An, th́ thuốc “Cửu Long hoàn” được
các người lao tâm, lao lực, thức đêm, làm
việc nhiều như các vũ nữ ở các vũ
trường, các nghệ sĩ sân khấu cải
lương, các tay cờ bạc... tóm lại những
kẻ lấy ngày làm đêm đều dùng “Cửu Long hoàn”,
để phục hồi sức lực. Thuốc viên
“Cửu Long hoàn” được quảng cáo trên đài
“Philco Sài g̣n” qua bài hát “Une chan son pour Ninh” lời Việt
như:
Khi nào mệt mỏi , Nhớ mua dùm Cửu Long hoàn Vơ
Đ́nh Dân...
Một dược sĩ Tây y khác cũng thành công và
nổi tiếng nhờ thứ thuốc ban nóng, cảm ho
của trẻ em là ông
Nguyễn Chí Nhiều. Ông Nhiều lập “Nguyễn Chí
Dược Cuộc”, sản xuất vài thứ thuốc
thông dụng mà thuốc ban nóng cho trẻ em chiếm
phần lớn. Thuốc này hiệu nghiệm, nhưng
nhờ cách quảng cáo khéo, nên được phổ
biến sâu rộng trong quần chúng thôn quê. Thuốc ban nóng
cảm ho “Euquinol” quen thuộc đối với các bà
nội trợ thành thị lẫn các nông dân miền quê.
Hễ ai có con nóng, th́ người nhà hay lối xóm liền
thúc hối hăy mua thuốc “Euquinol”.
Ông Nguyễn Chí Nhiều là người có sáng kiến,
biết lợi dụng các cuộc tranh tài thể thao
để quảng cáo sản phẩm. Cuộc đua xe
đạp đường trường nào tổ chức
cũng có các xe thuốc “Euquinol” đi kèm. Thuốc “Euquinol”
chế theo dạng thuốc Tây bằng bột màu trắng,
như có lân tinh, khác với h́nh dạng gói thuốc “Cao
đơn hoàn tán” của các tiệm thuốc Bắc tung ra
thị trường. Thuốc ban “Euquinol” của Nguyễn
Chí Nhiều vừa rẻ tiền, vừa hiệu
nghiệm, lại được quảng cáo sâu rộng,
được bày bán trong các tiệm trữ dược,
các liệm tạp hoá, nên dân chúng mua dễ dàng. Lần vân
thuốc ban “Euquinol” đánh bại thuốc “Ngoại
cảm tán” của nhà thuốc Nhị Thiên Đường,
độc chiếm thị trường mấy thập
niên.
Nguyễn Chí Nhiều c̣n nổi tiếng trong một
lănh vựa khác: thể thao. Ông Nhiều cũng là Mạnh
Thường Quân của bộ môn đua xe đạp. Ông
từng được gọi là “Ông bầu” của
đoàn cua-rơ “Euquinol”. Đoàn cua-rơ này là một ê-kíp
gồm những tay đua do chính ông tuyển chọn, tài
trợ để tập dượt, tranh tài trong các
cuộc đua “Ṿng Cộng hoà” từ năm 1956 trở đi.
Đội tuyển xe đạp của ông Nhiều khoác áo
“Đội Euquinol”. Đây là một đội dua xe
đạp chuyên nghiệp, dược sĩ Nguyễn Chí
Nhiều phát lương để tập dợt, mua xe
đạp và cung cấp phụ tùng. Khi đă trở thành
cua-rơ của đội “Euquinol” họ khỏi bận
tâm lo sinh kế, ngoài chuyện cố tâm luyện lập. V́
thế đội “Euquinol”, thường lập
được nhiều thành tích, chiếm các giải
đồng đội và cá nhân hơn các dội khác.
Những điều đó làm cho họ thêm hứng chí mà món
thuốc “Euquinol” cũng được dịp phô
trương tên tuổi khắp nơi trong nước.
Những dân chính phủ tổ chức “Ṿng đua Cộng
hoà” có nhiều đội tham dự. Những đội
được nhắc nhở nhiều nhứt như Quân
Vận, Quân Cụ, Thuỷ Quân Lục Chiến, Euquinol...
Phần dưới đây chúng tôi chép là tài liệu của
nhà văn Hồ Trường An gởi tặng:
Nhà thuốc Nhành Mai ở Phú Nhuận, nổi tiếng
với món thuốc dưỡng thai hiệu “Nhành Mai”. Có câu
ca dao chọc ghẹo: Bớ cô con gái nhà ai? Chưa chồng
mua thuốc dưỡng thai uống liền!
Ngoài ra món thuốc dán hiệu Nhành Mai, trị mụt
nhọt rất hay. Không cần phá miệng mụt nhọt,
chỉ cần trét thuốc vào miếng vải cắt tṛn,
lớn cỏ đồng xu lá bài, rồi dán lên mụt
nhọt. Chừng vài ngày sau, gỡ miếng vải ra th́
mủ luôm chảy và cùi nhọt ḷi ra, mụt nhọt héo
mặt rồi lành ngay hai hôm sau. Một hăng thuốc khác do
người Tàu ở Chợ Lớn bào chế gọi là nhà
thuốc “Đại Quang”, nổi tiếng với món
thuốc Đông y “Huyết Trung Bửu”, loại thuốc
điều hoà kinh nguyệt dành cho phụ nữ. Thuốc
này át món “Nữ Kim Đơn” v́ nhờ quảng cáo mạnh
trên các báo chí ở Sài g̣n. Đă vậy, hăng “Đại
Quang” cũng như nhà thuốc Ông Tiên (của Nguyễn
Hoàng Hoạnh), cứ mỗi năm cho ra cuốn sách
quảng cáo, có truyện ngắn, thơ, có chuyện
lịch sử, bài ca vọng cổ... để giới
thiệu các thứ thuốc của hăng ḿnh cho khắp
đồng bào ở Lục tỉnh.
Sau năm 1945, có nhà thuốc “Đại
Từ Bi” cũng có xe cam nhông bít mui, bán dạo khắp
Nam Kỳ lục tỉnh, từ thành thị đến thôn
quê, đặc biệt là các tài tử biết ca vọng
cổ, biết đóng tuồng cải lương, hát giúp
vui mỗi khi xe neo ở một địa điểm nào
đó để bán thuốc. Tuồng tích phần nhiều
kể chuyện “Ông Trương Tiên Bửu”, “ Kim Vân
Kiều”, “Cánh Buồm Đen”... Trước năm 1954
(trước hiệp định Genève), dân Nam Kỳ,
nhứt là dân thủ cựu ở thị thành và dân ở
các vùng nửa chợ nửa quê dân miệt vườn...
đều chê thuốc Tây nóng, nên không dùng. Cho nên ở thành
phố, ở thôn quê, các tiệm thuốc Bắc mọc lên
như nấm. Người khách trú, một khi mỏ
tiệm thuốc, ngoài các dược thảo, dược
phẩm, c̣n bán thêm các loại cao đơn lườn tán
do các nhà thuốc Việt nam bào chế, và thuốc
đặc chế từ bên Tàu như Thượng Hải,
hơng hơng, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây
nhập cảng vào. Nhưng thuốc Tàu không cạnh tranh
lại các loại thuốc Đông y do các Đông y sĩ
người Việt sáng chế, v́ toa thuốc bên Tàu
nhập cảng qua, in bằng chữ Nho, ít ai đọc
được. Ngoài ra, c̣n các món thuốc loại mỹ
phẩm như “Bạch ngọc cao”, một loại kem xức
cho da mặt mịn màng, như “Bóng nha duyên “ dùng để
chà răng cho trắng. Tuy nhiên “Bóng nha duyên “ xúc miệng không
thơm bằng phấn chà răng của Tây đặc
chế như Kool, Gibbs, nên bán không chạy ở ngoài
tỉnh thành. C̣n dân miện vườn th́ dùng xác vỏ cau
chà răng, không biết dùng bàn chải... Đến khi kem
đánh răng Leyna xuất hiện với cái nhăn in h́nh
nữ minh tinh Kim Vui cười phô răng, sau đó là kem
Hynos với người đàn ông da đen cười
răng trắng nhởn, th́ Kool và Gibbs cáo chung. C̣n “Bóng nha
duyên” cũng không trống không kèn lặn mất.
Dân thương hồ, tức những người buôn
bán trên sông rạch, kèm với các tập sách mỏng in luồng
cải lương thâu thanh vào đĩa nhựa, kèm
với đĩa hát máy, kim hát máy, sách vở, giấy bút,
trà, vải, họ c̣n bán thêm cao đơn hoàn tán. Có vậy,
dân quê ở các địa danh hẻo lánh, mà người dân
Nam Kỳ gọi là dân quê ở hóc Bà Tó mới có thuốc
để dùng.
Nếu nhắc lại những nhà thuốc Tây ở Sài
g̣n trước năm 1940, th́ có nhà thuốc Tây nằm trên
đường Catinat, từ nhà thờ Đức Bà đi
xuống mé sông gồm có: “Pharmacie Mus” của ông Beniot.
Xuống tới nhà hát Tây, có “Pharmacie Sohrenne”, không nằm
trên đường Catinat (Nguyễn Huệ), mà nằm
ở con đường nhỏ tên Francis Garnier, tẻ
từ đường Catinat. Ngoài ra, c̣n có “Pharmacie Normale”,
“Pharmacie de France”. Đó là những nhà thuốc Tây mà chủ nhân
đều là dược sĩ người Pháp. Nhà
thuốc nào cũng có pḥng bào chế riêng để chế
thuốc theo toa bác sĩ. Các nhà thuốc mà chủ nhân là
người Việt gồm có: Nhà thuốc “Cường
Lắm” ở góc đường Mạc Mahon (Công Lư) và
đường Bonard (Lê Lợi). Chủ nhân là dược
sĩ Trần Văn Lắm. Dưới thời ông
Thiệu, ông Lắm trở thành Thượng nghị sĩ
và Ngoại trưởng. Ngoài ra c̣n có “Pharmacie Lư”, chủ
nhân là dược sĩ Nguyễn Thị Lư. “Pharmacie
Dương Hữu Lễ”, chủ nhân là dược sĩ
Dương Hữu Lễ ở đường Rue d”espagne
(Lê Thánh Tôn). C̣n “Pharmacie Nguyễn Văn Cao” góc
đường Chợ Mới và đường Bonard.